Phân tích bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu Dễ Hiểu Nhất | Phunulamchutuonglai

Nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta sẽ không quên tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Có thể nói đây là một trong những tác phẩm đặc sắc mang lại nhiều cảm xúc cho người đọc. Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc , chúng ta sẽ thấy rõ vẻ đẹp của người nông dân trong lúc làng quê bị xâm lăng. Cùng với đó là sự hy sinh và tâm hồn anh hùng bất tử.

Bài Văn Mẫu Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ, tác gia văn học nổi tiếng của Việt Nam. Dù có tài năng nhưng cuộc đời của anh không hề suôn sẻ. Sau khi để tang thi, năm 1849, ông bị bệnh và bị mù. Sau đó, anh quay lại học tập, uống thuốc và tham gia vào cuộc chiến chống lại hội FA. Do có thời gian sống với bác nông dân nên anh phần nào hiểu được vẻ đẹp của người nông dân dũng cảm.

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc là tác phẩm ra đời trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta. Sau trận đầu thắng lợi, ta bị địch phản kích, nhiều liệt sĩ hy sinh. Tác phẩm được nhà văn viết theo yêu cầu của chính quyền Đô Kông để tưởng nhớ các nghĩa sĩ Cần Giuộc.

  • Luận điểm 1: Bối cảnh thời gian và lời xác nhận bất hủ của người nông dân dũng cảm

“Ôi khốn nạn!

READ  Anh hùng chiến tranh Việt Nam Lê Văn Thọ | Phunulamchutuonglai

súng bắn đất; Lòng người của thiên hạ.

Mười năm công phá sở trường, chưa chắc đã thành danh như phao; Một trận chính nghĩa đánh Tây, tuy thân mất tiếng vang như họng súng ”.

Mở đầu tác phẩm, tác giả đã nói về bối cảnh thời đại với vô vàn sóng gió, biến cố. Quân địch được trang bị vũ khí tàn sát nhiều người. Tình huống này được tạo ra để thử thách lòng yêu nước của mọi người đối với quê hương, đất nước. Người dân miền Nam không sợ chết, sẵn sàng hy sinh, xả thân để đổi lấy công danh và hòa bình cho dân tộc. Chỉ qua và qua bài thơ, chúng ta đã thấy rõ cuộc đời và cái chết của người nghĩa sĩ.

Một nông dân dũng cảm chống lại kẻ thù
Một nông dân dũng cảm chống lại kẻ thù
  • Đề 2: Hình tượng người chiến sĩ nông dân yêu nước nồng nàn.

“Nhớ linh cữu xưa:

kinh doanh chim cút; Quan tâm đến nghèo đói.

Không quen cung ngựa, đi đâu trường nhung; Chỉ biết ruộng trâu, sống trong làng.

Cái cuốc, cái việc, cái cuốc, cái dịch, cái tay đã quen làm; Bốn cái khiên, bốn khẩu súng, bốn mác, bốn thế cờ, mắt chưa từng nhìn.

….

Chờ ai hỏi, bắt ai, lần này hãy cố gắng phá vòng vây; Không muốn ngược xuôi, chuyến đi đã về tay cọp ”.

Đoạn văn tiếp theo là hình tượng người chiến sĩ nông dân. Họ có vẻ ngoài mộc mạc nhưng cũng rất dũng cảm và kiên cường. Trước khi kẻ thù xâm nhập lãnh thổ, họ chỉ là những con người sống giản dị “làm ăn” với bộn bề cuộc sống. Người nông dân chỉ biết về làng quê nghèo nơi mình sinh sống. Cuộc sống quanh năm chỉ gắn với ” Dùng tay cuốc, cày, bừa, cấy. “. Họ chưa bao giờ nhìn những thứ như” Bốn lá chắn, bốn súng, bốn dấu, bốn cờ “.

Nhưng khi kẻ thù đến, hòa bình tan vỡ, họ luôn sẵn sàng đứng lên. Qua tinh thần dũng cảm này, chúng ta thấy có sự thay đổi lớn trong tình cảm và thái độ của người nông dân. Họ dường như đã nghe tin địch đến và ngửi thấy mùi chiến trận, “mùi của những người chăn chiên vui vẻ ra đi.” Năm tháng đã trôi qua. Và cuối cùng họ đã nhìn thấy sự xâm lược xấu xa của kẻ thù ở đó. Khi đó, họ ý thức hơn về độc lập dân tộc. Họ thấy có trách nhiệm “chờ người nhờ người bắt, lần này hãy cố gắng phá đi, đừng hòng trốn chui trốn nhủi, chuyến đi gặp hổ”. Chính sự chủ động và tinh thần trách nhiệm đã thể hiện cho chúng ta tinh thần dũng cảm và uy nghiêm.

  • Luận điểm 3: Cảm phục và tiếc thương trước sự hy sinh của các liệt sĩ
Sự hy sinh của người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được tô đậm bởi những ca từ ý nhị
Sự hy sinh của người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được tô đậm bởi những ca từ ý nhị

“Ồ!

Năm ý nghĩa trường tồn; Không biết phàm trần có vội vàng không.

….

Không phải án cướp, án phản mà đến nghĩa quân cùng giặc để phạm; Ai không giữ thành, tổ chức bầu cử rồi ra đi, nhưng hiệu quả là tùy theo số lượng.

Trong trận chiến với kẻ thù đó, họ không quen với việc huấn luyện quân sự, và họ không được huấn luyện về nghệ thuật của thập tự giá. Những gì họ sử dụng chỉ là những công cụ, đồ dùng phục vụ cho công việc và cuộc sống hàng ngày ”. Có một mô bên ngoài thận “;” Tay nắm trên đỉnh tường “… Trong khi đó, quân địch được trang bị vũ khí hiện đại, tinh nhuệ. Những thứ này tuy khủng khiếp nhưng không làm cho các liệt sĩ của chúng ta sợ hãi. Tác giả đã sử dụng nhiều động từ mạnh và nhịp điệu nhanh để miêu tả chiến trường ác liệt. Điều này cho thấy người nông dân dũng cảm cũng hiện lên dũng cảm, kiêu hãnh và đẹp đẽ hơn.

Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Tiếng kêu thảm thiết của tác giả qua nạn nhân là nỗi xót xa cho dân tộc ta

Vũ khí của địch quá khủng khiếp đã khiến các liệt sĩ của ta ngã xuống. Tiếng khóc của tác giả qua văn chương là nỗi xót xa cho cả dân tộc. Những con người dũng cảm đó xứng đáng được ghi nhớ, cảm ơn và trân trọng.

Bên cạnh đó, tác giả cũng bày tỏ sự ngưỡng mộ sâu sắc đối với những con người chân chất này. Họ là những người nông dân chất phác nhưng vì quê hương đất nước, họ vẫn kiên cường đứng lên chống lại kẻ thù. Họ muốn trở về với cha của họ, điều đó cũng là vinh quang; Còn hơn mặc lấy chữ Tây, sống chung với rợ rất khổ. Câu này không chỉ nói về sự đau buồn, mà còn nói về sự bất tử. Đây là những điều mà thế hệ tương lai cần hướng tới.

  • Luận điểm 4: Ca ngợi tâm hồn bất tử của con người chính trực.

Đoạn văn cuối cùng là lời ngợi ca tâm hồn bất tử của người nghĩa sĩ. ” Nước mắt người anh hùng không sao lau được, tiếc cho hai chữ thánh hiền, hương tử sĩ càng thơm, tạ ơn một bậc đế vương phán xét. “. Lời bài hát thể hiện sự thương cảm, tưởng nhớ những người đã khuất.

Tượng đài bất tử nghĩa sĩ Cần Giuộc
Tượng đài bất tử nghĩa sĩ Cần Giuộc

Dù nhà hiền triết đó đã chết nhưng linh hồn bất tử của họ vẫn còn mãi. Vì họ có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, dũng cảm đứng lên đánh giặc ngoại xâm.

Phần kết

Có thể nói lễ tế như bia mộ theo như lời của cụ Nguyễn Đình Hiệu. Qua lời kể của mình, ông đã tạc nên một bức tranh khác về những người nông dân dũng cảm nhưng bi tráng. Chúng tượng trưng cho lòng yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm của cha ông ta. Không chỉ vậy, đài tưởng niệm còn là dấu mốc thể hiện một bi kịch lớn của dân tộc Việt Nam – bi kịch nước mất nhà tan. Đồng thời báo hiệu một thời đại lịch sử đen tối của dân tộc ta – trăm năm đô hộ của thực dân Pháp. Nhưng qua lời kể của Người càng thể hiện sự cao cả, tinh thần bất khuất của dân tộc Nam Bộ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Họ luôn tỏa sáng vì lý tưởng sống cao đẹp của người liệt sĩ, nghĩa quân: “Chuẩn bị hy sinh vì đại nghĩa, vì nhân dân”.

Bằng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, tác giả đã miêu tả hình ảnh người nông dân rất chân chất. Qua đó càng làm sáng tỏ thêm chí khí anh hùng, lòng yêu nước vô cùng sâu sắc.Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, chúng ta sẽ càng thêm nhớ ơn nhân dân và cảm nhận rõ nét vẻ đẹp tâm hồn, trí tuệ mà tác giả gửi gắm.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud